Đối âm và đối ngẫu
16/05/2026 Bình luận về bài viết này
Câu đối là thú chơi tao nhã và thú vị của người Việt từ xa xưa. Ông cha ta để lại rất nhiều câu đối hay về nội dung, đúng về niêm luật lại thể hiện tình yêu đất nước, con người, khí phách kiên định và hướng đến các giá trị chân thiện mỹ.
Tuy nhiên, trong luật đối có khá nhiều quy tắc phức tạp và câu đối có thể xuất hiện ngay trong thơ mà không phải ai cũng biết. Để cho đơn giản và dễ hiểu, người viết xin phân tích hai câu thơ đối âm và đối ngẫu vô cùng chuẩn để bàn bạc.
Đó là hai câu luận, tức câu số 5 và câu số 6, trong bài thơ “Qua đèo ngang” thể “thất ngôn bát cú” của Bà Huyện Thanh Quan:
Nhớ nước đau long con quốc quốc
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
1. Đối âm bằng trắc:
Trắc trắc bằng bằng bằng trắc trắc
Bằng bằng trắc trắc trắc bằng bằng.
Trong tiếng Việt, âm “trắc” tương ứng với các từ có dấu sắc, hỏi, ngã và nặng. Âm “bằng” tương ứng với các từ không dấu và dấu huyền. Đối âm là niêm luật khốc liệt nhất của thú chơi câu đối nói chung và thơ Đường thể “thất ngôn bát cú” nói riêng.
Chuẩn nhất của thơ Đường thể “thất ngôn bát cú” là cứ hai câu một đối với nhau, hai câu “đề” đối với nhau, hai câu “thực” đối với nhau, hai câu “luận” đối với nhau và hai câu “kết” đối với nhau. Đối ở đây không chỉ là đối âm mà còn là đối ngẫu, tức đối về ý tứ.
2. Đối ngẫu ý tứ
“Nhớ nước” đối với “Thương nhà”, “đau lòng” đối với “mỏi miệng”, “con quốc quốc” đối với “cái gia gia”. Vừa đối âm, vừa đối ý. Quốc quốc là chim quốc kêu, quốc nghĩa tiếng Hán là nước. “Gia gia” là tiếng chim đa đa kêu, gia nghĩa tiếng Hán là nhà.
Như vậy, hai câu thơ số 5 và số 6 ở vị trí “luận” trong bài thơ “Qua đèo ngang” của Bà Huyện Thanh Quan thực ra là một câu đối. Hơn thế, đây lại là một câu đối rất chuẩn. Không chỉ chuẩn về đối âm, đối ý mà bên trong còn chứa nhiều tầng nghĩa sâu xa.
Đến đây thì ta thấy, nếu thực sự chuẩn khi thỏa mãn đầy đủ quy tắc thì niêm luật thơ Đường là vô cùng khó. Sáng tác thơ Đường thể “thất ngôn bát cú” thực ra là sáng tác 4 câu đối nhưng lại phải ghép với nhau thành một câu chuyện xuyên suốt, liền mạch.
Chuyện chữ nghĩa xưa khó khăn như vậy có rất ít người có đủ nguồn lực mà có thể thỏa mãn được các quy tắc của niêm luật ngặt nghèo nên mới dẫn đến hai vấn đề, 1. Có rất ít bài thơ thực sự chuẩn và 2. Mọi người giảm bớt các quy tắc đi để dễ sáng tác hơn.
Phong trào thơ mới đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam được hào hứng đón nhận là vì thế. Tất nhiên, đó là sau khi có sự xuất hiện của chữ Quốc Ngữ. Trước đó, chỉ với chữ Hán và chữ Nôm, bản thân việc học chữ để đọc viết được đã khó, nói gì đến sáng tác được thơ văn.





