Làng thơ và cuộc đụng độ thế kỷ
03/01/2026 Bình luận về bài viết này
Đầu thế kỷ XX, Việt Nam chuyển sang viết chữ Quốc Ngữ, rồi phòng trào thơ mới xuất hiện với thể thơ tự do cùng với sự tôn vinh các thể thơ thuần Việt truyền thống là lục bát và thuần Việt biến thể mới là song thất lục bát.
Hồi ấy những người đồng tình với chữ Quốc Ngữ phần lớn cũng là người ủng hộ thơ tự do chê các thể như thơ Đường, thơ Cổ Phong gốc Hán là nhiều phép tắc gò bó, với những quy định khắt khe về, bằng trắc, đối ngẫu, số âm, số chữ…
Lý lẽ mang tính cơ sở của những người ủng hộ thơ tự do đó là, thơ đầu tiên là tiếng lòng bật ra. Khi tiếng lòng bật ra thì trước tiên là thể hiện cảm xúc của tác giả, rồi sau đó mới đến các quy tắc. Chứ quá đề cao niêm luật sẽ làm tiếng lòng bị gò bó.
Ngược lại những người thủ cựu, bảo thủ thì lại chê thơ lục bát và thơ tự do là, cả người sáng tác và người cảm thụ đều dễ dài, tùy tiện, suồng sã và thậm chí có phần hoang dã. Người ta đã sáng tạo ra một số bài thơ lục bát để châm biếm như sau:
1.
Vợ tôi nửa ngủ nửa mơ
Đêm qua nó bảo dí thơ vào hồn
Vợ tôi nửa dại nửa khôn
Đêm nay nó bảo dí hồn vào thơ.
Rồi sau này có thêm một bài nữa mà dân du lịch rất thích là:
2.
Nước Lào cũng giống nước ta
Cái cựa (cửa) là để đi ra đi vào
Nước ta cũng giống nước Lào
Cái cựa (cửa) là để đi vào đi ra.
Bài số 2 thì không đúng niêm luật của thơ lục bát lắm, bởi từ số hai của câu bát (tám) cần là âm bằng. Bởi thơ lục bát không chỉ để đọc mà còn để lẩy. Thời trước các cụ ông cha ta hay lẩy Kiều (truyện Kiều), trước đó là là lẩy ca dao để ru con, hò vè, đối đáp…
Phía ngược lại, những người của phong trào thơ mới có người đã dùng những từ gốc Việt (tiếng Nôm) để sáng tác thơ Đường mà lại hay tuyệt hảo, đưa được từ láy và điệp từ vào được trong các quy tắc rất khó của thơ Đường. Vừa đúng niêm luật, lại vừa tuyệt hay.
Đó là bài “Tràng Giang” của Huy Cận.
Chuyện kể rằng, khi Huy Cận làm xong bài thơ “Tràng Giang”, ông gửi cho Xuân Diệu xem. Xuân Diệu vội chép tay rồi gửi theo đường bưu điện cho Thế Lữ. Đọc xong, Thế Lữ khen hay và hỏi: “Huy Cận là tay nào mà làm thơ hay thế”. Xuân Diệu bảo: “Huy Cận là bạn tôi”. Thế Lữ lại hỏi: “Vậy sao không đưa thẳng cho tôi mà lại gửi thư”. Xuân Diệu đáp: “Tôi muốn gửi thế để xem thơ có hay thật không”.
Tuần ấy báo đăng bài “Tràng Giang” của Huy Cận. Hôm sau, mới 6 giờ sáng, Lưu Trọng Lư đã lên đập cửa phòng Huy Cận tại số 40 Hàng Than (lúc ấy Lưu Trọng Lư ở tầng dưới, Huy Cận và Xuân Diệu ở tầng trên), mà rằng: “Trời, bài “Tràng Giang” hay quá Cận ơi. Hôm nay cụ Ngô Tất Tố hỏi tôi: “Huy Cận là thằng cha nào mà làm bài thơ hay thế. Bài thơ này hồn thơ Đường mà hay hơn cả thơ Đường”.




