Phân biệt tiếng nói và chữ viết
13/04/2020 Bình luận về bài viết này
Ngôn ngữ của một dân tộc hay một quốc gia trên thế giới chỉ được coi là đầy đủ hay hoàn chỉnh khi có đủ hai thành phần là tiếng nói (phần âm) và chữ viết (phần hình). Bởi có những ngôn ngữ chỉ có tiếng nói mà không có chữ Viết, như ngôn ngữ của người Miêu (hay Mèo, Mông) sinh sống nhiều ở tây nam Trung Quốc, bắc Việt Nam và Lào. Tiếng Việt cổ xưa cũng chỉ có phần âm, tức chỉ có tiếng nói mà không có chữ viết.
Như vậy, tiếng nói thuộc phần âm và chữ viết thuộc phần hình, đây là hai đối tượng riêng biệt, khác nhau cả bản chất sự vật, cũng như vai trò, chức năng của chúng trong cuộc sống. Ví như, âm “hoa” ta nói ra miệng khác với từ “hoa” ta viết trên giấy, bởi một đằng là tiếng nói (phần âm), còn một đằng là chữ viết (phần hình). Nhưng dù âm “hoa” nói ra miệng hay từ “hoa” viết trên giấy, thì đều chỉ “bông hoa” ở ngoài đời. Bông hoa do cây trong vườn lớn lên và nở ra.
Việc chỉ “bông hoa ở ngoài đời” bên trên được gọi là nghĩa của âm và từ. Khi ta nhìn thấy bông hoa ngoài đời thật, ta sẽ nói ra âm “hoa”, hoặc viết ra từ “hoa” trên giấy. Khi ta dạy một đứa trẻ nói, ta chỉ vào bông hoa và nói “hoa”, nó sẽ nói theo và sẽ có ý niệm giống ta về bông hoa. Nhưng nó vẫn chưa biết chữ, về sau khi đi học nó sẽ được học và viết được từ “hoa” trên vở. Vậy âm và từ là hai đối tượng hoàn toàn khác nhau, khi hiểu được vấn đề này thì ta mới hiểu được bản chất của ngôn ngữ.
1. Bản chất của đề xuất cải cách chữ Quốc Ngữ
Gần đây một số người đề xuất cải cách chữ Quốc Ngữ, xin lưu ý là ở đây họ đề xuất thay đổi cách viết chữ, chứ không phải thay đổi tiếng nói. Tiếng nói (phần âm) làm sao mà thay đổi được? Âm “hoa” ta nói ra miệng – chỉ bông hoa trong vườn – thì mãi mãi về sau vẫn không thay đổi, nhưng từ “hoa” ta viết trên giấy thì có thể thay đổi. Như chúng ta viết chữ Quốc Ngữ thay cho chữ Nôm. Nhưng dù có viết thế nào thì vẫn đọc là “hoa”. Âm này ta mượn từ tiếng Hán, nhưng không còn viết chữ (tượng hình) giống họ nữa.
Nhiều bản đề xuất cải cách cách viết chữ Quốc Ngữ thực chất là một kiểu mã hóa để viết tốc ký (tức viết cho nhanh hơn), trên nền tảng của hệ chữ Latin với các ký tự a, b, c, d… Phần lớn những tác giả đề xuất muốn chữ Việt bỏ đi các dấu câu – năm dấu câu gồm huyền, sắc, ngã, nặng, hỏi – để việc viết chữ Quốc Ngữ được nhanh hơn, phù hợp với các bàn phím của điện thoại và máy tính của thời công nghệ hiện đại. Điều này chúng ta có lẽ cần có một công trình nghiên cứu của các chuyên gia ngôn ngữ học giỏi nhất.
Tóm lại, dù các tác giả có đề xuất thay đổi cách viết chữ Quốc Ngữ như thế nào, thì phần âm của tiếng Việt sẽ vẫn không thay đổi. Các từ có được mã hóa (bằng các chữ cái) ra sao, thì chúng vẫn cứ đọc như cũ, không phải đọc chệch đi theo cách viết mới của họ. Đọc chệch đi là chưa hiểu bản chất vấn đề, là dùng việc quy ước về cách đọc của loại chữ viết hiện tại để đọc cho loại chữ viết mới.
Cách viết của ngôn ngữ tiếng Việt (chữ Việt – hiện nay là chữ Quốc Ngữ) về cơ bản đã hoàn chỉnh và từ lâu đã in sâu vào trong tiềm thức của người Việt Nam. Đúng là có một số chữ cái nên thay đổi cho tiện hơn, nhưng trong hoạt động sống cộng đồng, mọi người sẽ điều chỉnh dần cho phù hợp. Do vậy, phần lớn các đề xuất thay đổi cách viết chữ Quốc Ngữ một cách quá táo bạo là không cần thiết.
2. Một số đặc điểm của chữ Quốc Ngữ
Cách viết của chữ Quốc Ngữ là sử dụng 40 chữ cái để mã hóa cho các âm đơn (đơn vị âm nhỏ nhất – gọi tắt là âm vị). Trong đó gồm các chữ cái đơn là: a ă â, b, c, d, đ, e ê, g, h, i, k, l, m, n, o, ô, p, q, r, s, t, u, v, x, y, z để mã hóa cho các nguyên âm đơn và các phụ âm đơn. Bảng chữ cái tiếng Việt không dùng ba chữ cái f, chữ j và chữ w.
Và các chữ cái ghép để mã hóa cho các (10) phụ âm ghép là: ch gồm c và h, gh gồm g và h, kh gồm k và h và ng gồm n va g, ngh là chữ cái ghép dài nhất gồm ba chữ cái đơn là n, g và h, nh gồm n và h, ph gồm p va h, qu gồm q và u, th gồm t và h, tr gồm t và r. Từ dài nhất của tiếng Việt là hai từ “nghiêng” và “khuyếch”– đều có tới bảy chữ cái.
Các âm ghép thì do các âm đơn ghép lại. Tiếng Việt có rất nhiều âm ghép, ví dụ với chữ cái “a” có: ac, am, an, ao, at, au, ach, ang, anh. Từ các âm ghép không có dấu câu này lại kết hợp với năm dấu câu (huyền, sắc, ngã, nặng, hỏi) tạo ra thêm nhiều các âm ghép phong phú hơn nữa. Như chỉ một âm “an” khi thêm năm dấu câu vào có: àn, án, ãn, ạn, ản.
Bốn mươi (40) chữ cái chính là sự mã hóa của bốn mươi âm vị nhỏ nhất, từ các âm và chữ cái này có thể ghép lại thành tất cả các âm và từ của tiếng và chữ Việt. Lưu ý phân biệt giữa tiếng nói (âm) và chữ viết – đã phân tích ở phần trên của bài. Như vậy, ta thấy 40 chữ cái của chữ Quốc Ngữ đã mã hóa thành công gần như tất cả các âm của tiếng Việt, không cần phải cái cách mà chỉ cần có một vài thay đổi nhỏ.




