“Cát tặc” là gì?
24/04/2019 Bình luận về bài viết này
Lâu nay, các báo chí chính thống, thậm chí cả đài phát thành và đài truyền hình quốc gia Việt Nam có sử dụng từ ghép “cát tặc” để mô tả những kẻ “khai thác trái phép cát trên sông” ở khắp nơi trên cả nước, từ bắc vào nam, từ đồng bằng lên miền núi… Xét theo quan điểm của ngành Ngôn ngữ học, việc sáng tạo và sử dụng này tùy tiện.
Âm “cát” trong tiếng Trung có nhiều cách viết (chữ) khác nhau, tương ứng với các cách viết (chữ) đó là các nghĩa. Nếu viết là 吉 thì có nghĩa là tốt, lành… Còn nhiều nghĩa khác nhờ người đọc tra từ điển. Âm “tặc” trong tiếng Trung, nếu viết là 賊 thì có nghĩa là giặc, trộm, làm hại, làm loạn… Nếu nói “cát tặc”, theo nghĩa tiếng Trung, có trường hợp có thể được hiểu là “giặc cướp tốt lành”.
Âm “cát” (nói ra miệng) tiếng Trung theo bất cứ cách viết nào, cũng không có nghĩa giống với nghĩa của âm “cát” trong tiếng Việt, là một loại vật liệu xây dựng khai thác từ mỏ, biển, sông, suối… Âm “cát” tiếng Việt, viết (mã hóa) bằng chữ Quốc Ngữ là từ ba chữ cái (c, a, t và dấu sắc) ghép lại mà thành. Lưu ý, ở đây có sự đồng âm giữa hai ngôn ngữ Việt – Trung.
***
Không ghép nửa ta nửa Tàu
Việc sáng tạo ra từ mới, bằng cách ghép âm “cát” tiếng Việt với âm “tặc” tiếng Trung (bất kể theo cách viết nào) cũng đều sai. Nếu viết hai âm này bằng hai chữ tiếng Trung (吉賊), thì có nghĩa là “giặc cướp tốt lành”. Việc sáng tạo ra từ mới, đầu tiên chỉ được dùng ở các văn tự không chính thống, sau khi đưa vào từ điển thì mới được đưa vào văn bản chính thống. Các đơn vị chính luận không nên sử dụng tùy tiện.
Cụm từ đúng cho trường hợp này là “khai thác cát trái phép”. Báo chí là cơ quan truyền thông chính luận của nhà nước không thể sáng tạo hay dùng từ ngữ tùy tiện, chỉ được dùng những từ ngữ có trong từ điển, thậm chí từ điển chính thống. Từ ghép “cát tặc” hiện chưa có từ điển tiếng Việt chính thống nào đưa vào. Xin lưu ý, gọi bọn hút trộm cát là “cát tặc” thì sẽ như là gọi bọn bắt trộm chó là “chó tặc”.
Bọn “trộm cát” chúng nó hút trộm cát bằng cách “khai thác” (dùng thuyền và máy hút cát từ đáy sông lên), nên ta có thể gọi là bọn “trộm cát trái phép”, hoặc cụ thể ra là “khai thác cát trái phép”. Đó là những cá nhân hoặc đơn vị khai thác cát mà chưa được các cơ quan chức năng của nhà nước cấp phép, hoặc khai thác cát ở những địa điểm bị cấm khai thác (hoặc địa điểm chưa được cho phép khai thác).
***
Ngoài lề – Bàn thêm
Xét về việc dùng chữ viết (Quốc Ngữ) để mã hóa âm vị (đơn vị âm), thì từ “cát” của tiếng Việt đáng lẽ không cần có dấu sắc. Từ “cát” mà mã hóa của âm “cát” (nói ra miệng) trên giấy và các phương tiện lưu trữ văn bản. Theo cách đánh vần để phát âm từ, thì từ “cát” đánh vần là “cờ a tờ át” là đủ âm “cát” – không cần phải có thêm dấu sắc.
Tức đơn vị âm cơ bản của chữ cái đã đủ (40 chữ cái – cả chữ cái ghép – mã hóa 40 âm), không cần dùng thêm dấu. Ví dụ từ “hoa” trên giấy để mã hóa âm “hoa” (nói ra miệng), thì khi đánh vần để phát âm “hờ oa hoa” là đủ, không cần phải có dấu, những những từ như: hóa, hòa, họa, hỏa thì cần phải có dấu. Năm dấu tiếng Việt là: hỏi, sắc, huyền, nặng và ngã.
Tiếng Việt là hệ thống âm người Việt sáng tạo ra trong quá trình sống và lao động của mình. Qua hệ thống âm này, người Việt hiểu nhau hơn, giao tiếp với nhau tốt hơn trong các tương tác hàng ngày. Tiếng Việt ban đầu chưa có chữ viết, sau người Việt mượn chữ Hán để viết, rồi vay mượn thêm nhiều âm Hán để hoàn thiện hệ thống âm của mình. Chữ Hán sau được cải thành chữ Nôm, gần đây người Việt dùng chữ Quốc Ngữ để viết.




