Xâm nhập thế giới cò hàng hóa
06/09/2015 Bình luận về bài viết này
Việt Nam có nhiều loại cò: cò giấy tờ, cò nhà đất, cò phe vé, cò đẻ mướn… Nay người viết xin giới thiệu với quý vị cò hàng hóa. Đây là tên tiếng lóng người viết đặt cho các nhân viên chạy lệnh (forwarder) ở các nhà ga, bến cảng, cửa khẩu… Bài này viết về các cò hàng hóa ở một ga hàng không.
Trên một chuyến bay bình thường có hai loại hàng hóa. Hàng hành lý cá nhân của khách và hàng hóa hãng hàng không vận chuyển dịch vụ. Hành khách được mang 7kg theo người và được ký gửi 20kg (hạn chế kích thước). Hàng ký gửi của khách và hàng dịch vụ thường ở bụng máy bay.
Cước phí vận chuyển hàng không rất đắt, nên thường chỉ có những công ty lớn, sản xuất những sản phẩm có hàm lượng chất xám cao (thường là đồ điện tử hay thời trang) và ăn theo sự kiện, mới đủ kinh phí sử dụng loại hình dich vụ này. Những công ty đang làm ăn tốt!
***
Các công ty nước ngoài sang Việt Nam đầu tư, nhưng hợp đồng vận tải họ không ký với các công ty Việt Nam. Họ ký với các công ty do người nước họ sang lập ở Việt Nam. Rồi các công ty đó mới thuê lại các công ty Việt Nam. Cò hàng hóa là nhân viên của các công ty Việt Nam. Người nước ngoài không trực tiếp làm thủ tục ở Việt Nam.
Tuy là qua mấy bước như thế, nhưng thu nhập của cò hàng hóa vẫn khá cao so với mặt bằng chung thu nhập ở Việt Nam. Ngành nghề này, tiếng Việt gọi là điều vận, còn trong tiếng Anh thì là một khâu nhỏ của logistics.
Cò hàng hóa là những người làm việc trực tiếp với hải quan, kho hàng. Họ hoàn thiện các thủ tục để lấy hàng từ sân bay về nhà máy. Hải quan kiểm tra, giám sát hàng hóa để thu thuế và chống buôn lậu. Nhân viên kho hàng là những người phụ trách việc trả hàng từ trong kho ra xe.
Hàng hóa, do tính chất, được phân làm ba loại. 1. Hàng ưu tiên cao, luồng xanh, miễn kiểm. 2. Hàng ưu tiên, luồng vàng, miễn kiểm. 3. Hàng thường, luồng đỏ, kẹp chì thùng xe hoặc dán niêm phong hàng, về hải quan gần nhà máy mới kiểm. Một số hàng phải kiểm ngay tại sân bay.
Khai thác là từ mô tả việc dỡ hàng từ bụng máy bay về kho. Người viết phải giái thích từ “khai thác”, vì cách hiểu nó của ngành điều vận khác với cách hiểu thông thường của chúng ta. Họ dùng từ này khá khôi hài, nhưng hợp lý!
Khai thác – theo cách hiểu thông thường – là hoạt động đào, bới, móc tài nguyên khoáng sản ở các mỏ. Ở đây, hoạt động khai thác mất tiền, bán các khoáng sản để bù lại và có lãi. Còn khai thác theo cách hiểu của ngành điều vận là, bản thân hoạt động khai thác mới có tiền, còn hàng hóa không sinh lời. Khoáng sản là của thượng đế, còn hàng hóa là của khách!

Cò hàng hóa sống nhờ các thủ tục lằng nhằng của nhà nước. Thủ tục càng lôi thôi, phức tạp – khiến các doanh nghiệp rối trí – càng tốt. “Đục nước béo cò” – đúng như người xưa nói vậy. Béo hơn nữa là gặp những người buôn lậu – hàng không đúng với tờ khai – rồi bị hải quan phát hiện. Chi tiền một, họ nói hai ba. Chủ hàng muốn hàng qua, thì phải trả!
Cò hàng hóa biết hải quan, kho hàng thu nhập thế nào. Thế nên họ mới thấy chuyện, có người sẵn sàng chi vài trăm triệu để chạy vào làm anh “nhân viên kho” là bình thường. Chính quyền muốn chống tham nhũng thì hãy tìm những anh cò hàng hóa. Họ là những người trực tiếp đưa hối lộ.
Thu thập chứng cứ để “đánh” một nhân viên hải quan thì sẽ có người khác vào thay. Rồi mọi chuyện sẽ lại như cũ. Muốn “đánh” cả hệ thống thì phải thu thập chứng cứ trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm. Việc đó các cơ quan chuyên trách, với các thiết bị chuyên dụng mới làm được. Một cá nhân đơn lẻ không nên chống tham ô, nhất là khi chuyện đã quá phổ biến.
Sau nhiều ngày xâm nhập, làm việc thực tế ở một kho hàng nhập quốc tế của một sân bay, người viết biết được biểu giá mà hải quan thu của các doanh nghiệp như sau: lấy một lô hàng luồng xanh hoặc vàng thu 30.000đ ($1,35), lấy một lô hàng luồng đỏ thu 50.000đ. Ngoài giờ – sau 16h30′ – và thứ 7, chủ nhật – tăng gấp đôi.
Khai thác nhanh là máy bay xuống lấy hàng ngay – thường làm đêm – chi phí rất đắt. Thường các công ty lớn, sản xuất hàng lãi cao, mới hay sử dụng loại hình này. Tiền lấy một lô hàng nhanh tăng gấp mười lần: một lô luồng xanh hoặc vàng thu 300.000đ ($10,35), một lô luồng đỏ thu 400.000đ. Có nhiều công ty, và mỗi công ty lấy nhiều lô một ngày.
Có lẽ các cán bộ hải quan lương quá thấp và họ “ăn” theo hệ thống, nên họ nhận tiền tiền của các doanh nghiệp rất thản nhiên, như đương nhiên phải vậy, họ chẳng có cảm xúc gì. Người nào không đưa hoặc đưa thiếu tiền, họ nhắc đưa cho đủ, tất nhiên vì thiếu thì họ họ sẽ phải bù vào.
Bây giờ các bạn đã hiểu vì sao những chiếc điện thoại thông minh và các đồ thời trang cao cấp lại đắt đỏ vậy. Vì các chi phí trong đó, ngoài những chi phí chính thức, nhà sản xuất còn phải tốn thêm chi phí cho các hạng mục kiểu này, nuôi hải quan, nuôi nhân viên kho và nuôi cò hàng hóa. Cò muốn lấy hàng nhanh lại phải “chiều” các anh kho hàng.
***
Năng lực cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào bộ máy hành chính của quốc gia đó. Một đất nước có bộ máy hành chính tinh gọn, liêm chính và quyền biến sẽ giúp được cho đất nước rất nhiều. Ngược lại, một bộ máy hành chính cồng kềnh, hiệu năng thấp, vòi vĩnh thì đất nước ấy chắc chắn không có cơ hội để phát triển.
Ở phía doanh nghiệp, khi họ phải tốn quá nhiều cho các khoản chi phí không chính thức, thì hao hụt đó sẽ đội vào giá thành sản phẩm. Giá sản phẩm cao, thì cạnh tranh kém. Làm ăn không được, họ chuyển sang đầu tư nước khác. Cho nên nếu không giải quyết được bộ máy hành chính tệ hại, thì Việt Nam không phát triển được.
Mới đây có một câu nhận xét “đau đớn” của một chuyên gia kinh tế trong nước về chính đất nước ta là: “Việt Nam là nước không chịu phát triển!”. Người viết nghĩ và giờ trực tiếp thấy là câu nhận xét này đúng. Đất nước không chịu phát triển, đúng hơn là không phát triển được, vì có những người không muốn đất nước phát triển.




