Nhận dạng đội ngũ trí thức thời đại

Việt Nam hiện nay có nhiều điều kiện để trở thành nước có nền kinh tế phát triển như: nguồn lao động trẻ, vị trí đắc địa trong khu vực, tài nguyên khoáng sản dồi dào… Nhưng nước ta vẫn trong cái vòng luẩn quẩn của nghèo nàn, lạc hậu. Nguyên nhân chính là ở con người, do đất nước ta không tôn trọng giá trị con người, không tôn trọng trí thức đích thực.

Yếu tố con người chưa được quan tâm thích đáng, trong khi đây lại là nhân tố chính cho sự hưng thịnh của mỗi quốc gia. Một xã hội bảo thủ, trọng thành tích, hám danh, sĩ diện với bằng cấp thường dị ứng với những sáng tạo và canh tân. Xã hội đó lo lắng trước những tư tưởng cải cách và xa rời các tiến bộ kĩ thuật. Đương nhiên xã hội đó sẽ tụt hậu.

Vấn đề đầu tư vào giáo dục luôn quyết định hưng, suy của một quốc gia. Nền giáo dục nói riêng và xã hội Việt Nam nói chung hiện đang khiến cho nhân tài không có đất dụng võ. Bằng cấp tràn lan làm người Việt ảo tưởng về danh tiếng của mình. Mỗi năm chúng ta có rất nhiều kỹ sư, cử nhân, tiến sĩ, giáo sư mới nhưng nền kinh tế của chúng ta cứ lẹt đẹ, đất nước chúng ta cứ lạc hậu.

Hơn 9.000 giáo sư, 24.000 tiến sĩ, 101.000 thạc sĩ và 2.700.000 cử nhân đại học (*) là nền tảng lý tưởng cho nền kinh tế tri thức. Nhưng hiện chúng ta vẫn đốt đuốc tìm lao động ta nghề cao, và thiếu hẳn những công trình khoa học, sáng chế hữu ích được áp dụng vào cuộc sống. Nền kinh tế của ta vẫn là nhân công giá rẻ, miệt mài với gia công cho thế giới.

Người Hàn Quốc có quyền tự hào, vì đã xây dựng được những thương hiệu mang tầm quốc tế như: SamSung, Hyundai, Kia… Người Nhật có thể tự hào với Sony, Toyota, Honda… Người Singapore có thể hãnh diện vì hàng xuất khẩu điện tử của họ làn ra khắp thế giới. Trong khi chúng ta không có thương hiệu Việt nào sánh ngang tầm thế giới.

Điều đó cho thấy chất xám người Việt đang bị lãng phí. Lãng phí từ khâu đào tạo (quá nhiều giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ giả và dởm), đến khâu sử dụng. Còn nhân tài thực sự lại chưa được tin dùng.

Nghèo, dốt, thua kém người khác chưa hẳn đã là cái tội. Mà tội là ở chỗ: nghèo, đói, lạc hậu, thua kém người khác nhưng không biết, hay biết mà không dám thừa nhận. Tệ hơn nữa là phủ nhận mình nghèo bằng mọi giá vì sĩ diện, rồi không chịu tìm tòi hướng đi, lối thoát cho mình. Nếu chúng ta không khắc phục được sự yếu kém của đất nước, thì nạn nhân chính là chúng ta. Ta đang là nạn nhân của chính mình.

***

Bất cứ xã hội nào, trí thức và yếu tố con người luôn là yếu tố hàng đầu để đưa đất nước đi lên. Nước Mỹ phồn vinh và là miền đất hứa cho biết bao người trên thế giới vì học thuật họ rất phát triển. Người Hàn Quốc chấp nhận “ăn mày chất xám” ở phương Tây. Sao không để cho trí thức Việt được tự do trong sáng tạo, tự do lựa chọn để họ được cống hiến?

Ở góc độ nào đó, có thể khẳng định rằng, đất nước không phát triển được là vì trí thức Việt Nam chưa phát huy hết vai trò và sứ mệnh của mình. Họ bị kìm kẹp, bị phong tỏa tư duy, tư tưởng và ý thức hệ. Họ cũng rất muốn cống hiến, muốn dấn thân nhưng sự khác biệt trong tư tưởng làm cho họ không thể làm được việc đó.

Họ bị rơi vào vòng xoáy của trí thức Việt bao đời nay, trong vòng xoáy đó rất nhiều trí thức vì mưu sinh mà đã bị đẩy vào con đường “lưu manh hóa”. Trong vòng xoáy đó nhân phẩm của trí thức bị chà đạp, rồi họ cũng đạp lên người khác để sống. Họ là nạn nhân, đồng thời chính là thủ phạm của thời đại.

Rồi mỗi người trong xã hội cứ liên tục hại mình, hại người khác. Có thể nói trí thức Việt Nam nói riêng và người Việt Nam nói chung vừa hại mình vừa hại người, chúng ta là nạn nhân của nhau, nạn nhân của định hướng xã hội, nạn nhân của sự dẫn dắt tồi tệ.

Trong một xã hội mà sự thật bị bóp méo, bị tẩy chay thì trí thức Việt từ chỗ “người sáng” cũng trở thành “người tối”, ngay thẳng cũng trở thành “còng lưng”. Họ im lặng cúi đầu để hưởng cuộc sống an nhàn, thay vì cất tiếng nói phản kháng để rồi bị vùi dập.

Với mức thu nhập hiện tại, xã hội có nhiều trí thức không đủ sống. Người trí thức bị bần cùng hóa và bị đẩy đến chỗ không thể nghĩ gì khác ngoài việc, làm sao kiếm đủ tiền để sống. Đây chính là một trong những lý do dẫn đến sự tha hóa, biến chất của giới trí thức. Thay vì học tập nghiên cứu, nâng cao chuyên môn, phát minh, khám phá ra cái mới, họ lao đầu vào kiếm tiền. Họ đã phải làm nhiều việc trái với đạo đức và lương tri.

Mua quan bán chức, mua vị trí công tác diễn ra phổ biến ở giới trí thức. Rồi khi lên nắm quyền thì cùng nhau nhũng nhiễu, cửa quyền, hách dịch, tham ô, chia chác… Thằng lên sau dốt hơn, nhưng lưu manh và thủ đoạn hơn thằng lên trước. Thật khốn khổ cho những người có lương tri trong một xã hội đảo điên.

***

Chưa dừng lại ở đó, giới trí thức không những bị bần cùng hóa về đời sống vật chất, mà còn bị bần cùng hóa hay tự bần cùng hóa cả về tư duy đời sống tinh thần khác. Hiện tượng này đang thành ra phổ biến: những người lẽ ra phải làm việc với sách vở, lại rất ít đọc sách, không quan tâm đến các vấn đề xã hội. Họ tự phủ nhận vai trò và trách nhiệm của mình đối với xã hội. Hoặc học nhiều đọc nhiều, có bằng này bằng nọ chỉ để tự hào, để khoe khoang, để lên lớp nhau, để tâng bốc nhau vì cái sĩ diện hão.

Người Nga đáp trả: Mày giỏi (giáo dục cao, học giỏi) sao mày không giàu (không bán kiến thức lấy tiền tiêu cho sang trọng)? Câu nói đó có lẽ hơi sống sượng, chợ búa, nhưng lại chỉ ra một thứ rất đáng suy nghĩ rằng: nếu như kiến thức không mang lại giá trị cho bản thân bạn, thì bạn cần kiến thức đó làm gì. Để trang trí hả? Để khoe mẽ hả? Nói thẳng ra, đó là cách nghĩ của con buôn chứ không phải trí thức.

Góc độ khác, rất nhiều trí thức cột chặt và để người khác cột chặt suy nghĩ của mình bằng những định kiến có sẵn, những quan điểm của tâm lý đám đông. Điều này dẫn đến họ không tự do tư duy, không có tính bứt phá, không có khả năng phán xét đúng sai. Họ chỉ biết thụ động nghe và làm theo những điều người khác – từ bên trên – đưa xuống cho mình, không cần biết đúng sai ra sao.

Sự “bần cùng hóa tinh thần” là một trong những nguyên nhân khiến giới trí thức Việt Nam đánh mất sức mạnh, đánh mất khả năng phân biệt đúng sai, và nó còn khiến họ vi phạm đạo đức xã hội, mà vẫn thấy lương tâm yên ổn. Họ tìm sự đến sự cân bằng trong tinh thần bằng cách, sử dụng các lý lẽ mang tính ngụy biện để bào chữa cho các vi phạm của mình. Họ đã dùng cái sai này để ngụy biện cho cái sai khác.

Sự “bần cùng hóa tư tưởng” khiến cho trí thức Việt Nam bị mất cả năng lực làm việc trong lĩnh vực chuyên môn của mình, mất luôn cả bản lĩnh xã hội, ý thức về sự đúng sai trong các chuẩn mực đạo đức xã hội. Để rồi họ làm sai, bị vấy bẩn nhưng cứ cho mình trong sạch. Tất nhiên, khi đó họ không dám đứng lên bảo vệ công lý, bảo vệ sự thật. Có nhiều người còn chút lương tri chấp nhận “cắn răng” thỏa hiệp với chính quyền để sống.

Trí thức dối trá và tiếp tay cho sự dối trá, lừa lọc và tiếp tay cho sự lừa lọc, sĩ diện và tiếp tay cho sự sĩ diện. Tất cả tạo nên dung mạo cho thời đại mà giới trí thức bị lưu manh hóa. Đất nước này đã phải trả cái giá quá đắt vì sự “lưu manh” của giới trí thức. Nay đã đến thời điểm giới trí thức phải biết tự đứng dậy nhìn thẳng vào sự thật để thoát ra khỏi cái vòng luẩn quẩn ấy. Xin chúng ta đừng tự hại mình và hại người nữa!

Người Việt, trong đó có trí thức Việt hay trách móc cái xã hội này, nhưng nếu nhìn lại thì chính chúng ta đã tạo ra xã hội hiện nay. Trí thức nói riêng, người Việt nói chung có xu hướng mong chờ một vị lãnh tụ anh minh, một vị nguyên thủ tài ba xuất chúng, để dẫn dắt xã hội đi lên. Nhưng họ quên rằng, không ai dẫn dắt họ tốt hơn chính mình.

Tiểu Bối

—–

(*) Số liệu của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn – Đại học New South Wales, Úc.

Hình đại diện của Không hiểuGiới thiệu Thành
Người kể chuyện

Bình luận về bài viết này

Trang web này sử dụng Akismet để lọc thư rác. Tìm hiểu cách xử lý bình luận của bạn.